Bài suy niệm của Cha Carlos Martins về việc Đức Kitô ngự xuống âm phủ và chiến thắng sự chết thật sự rất sâu sắc. Cha giúp người nghe nhìn thấy cuộc tử nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô dưới một góc nhìn rất sống động. Điều đặc biệt gây ấn tượng là cách cha mô tả sự kinh hoàng, bất lực và tuyệt vọng của ma quỷ khi đối diện với Đức Kitô. Những gì chúng tưởng là chiến thắng lại trở thành thất bại lớn nhất của chúng.
Điều đã xảy ra khi Đức Kitô bước vào âm phủ (về âm phủ là gì xem GLHTCG #633), đó không chỉ là một biến cố, mà là một cuộc đột phá vào lãnh địa tưởng như bất khả xâm phạm của sự chết.
Đó có phải là một cuộc xâm lăng dữ dội không? Chắc chắn là vậy, nhưng chỉ đối với ma quỷ. Đối với Đức Kitô, việc Ngài ngự xuống âm phủ và giải thoát các linh hồn đang bị giam cầm để đưa họ về cùng Chúa Cha hoàn toàn là một hành động bình an. Không có trận chiến nào phải diễn ra, không cần đến vũ khí hay đe dọa, thậm chí không cần một lời quát tháo. Sự hiện diện của Ngài đã đủ. Quyền năng của Ngài đã đủ.
Trái lại, việc Đức Kitô làm cho âm phủ trở nên trống vắng bằng cách giải thoát các linh hồn công chính còn dễ dàng hơn bất cứ chiến thắng nào trên trần gian và đẹp đẽ hơn cả khúc hòa âm tuyệt mỹ nhất từng được nghe.
Tuy nhiên, điều hoàn toàn dễ dàng đối với Người, ma quỷ cảm nhận như một sự tàn phá, một cuộc đảo lộn hoàn toàn làm tan vỡ mọi điều chúng từng tin là bất khả xâm phạm. Đối với ma quỷ, đó là bạo lực dưới hình thức thuần túy nhất, là sự bạo lực lớn lao nhất có thể tưởng tượng được.
Tuần trước, tôi đã chia sẻ một suy niệm về những gì Đức Kitô có thể đã trải nghiệm trong việc Người xuống âm phủ. Tuần này, tôi muốn suy niệm về những gì ma quỷ đã trải nghiệm khi Đức Kitô bước vào nơi ấy.
Nói một cách đơn giản, ma quỷ đã trải nghiệm biến cố ấy như một cú sốc kinh hoàng, tiếp đến là nhục nhã, thịnh nộ, bất lực, bị phơi bày trần trụi và cuối cùng là tuyệt vọng.
Cú sốc
Từ bao đời, ma quỷ đã cai trị trong bóng tối. Không phải như những vị chúa tể đích thực, nhưng như những kẻ tiếm quyền, những ký sinh trùng sống bám trên sự đổ nát của con người. Quyền lực của chúng được xây dựng trên sự tố cáo, trên lừa dối, trên lời dối trá đầu tiên đã được thốt ra trong vườn Êđen. Đối với chúng, những người chết đến âm phủ như những tù nhân bị áp giải.
Mỗi linh hồn đều mang những vết thương do lời dối trá của chúng gây nên. Mỗi linh hồn đều mang dấu vết ảnh hưởng của chúng. Ngay cả những linh hồn công chính nhất cũng nằm dưới quyền của chúng, bởi lẽ ngay cả sự công chính cũng không thể xóa bỏ những hậu quả của tội nguyên tổ.
Đức Giêsu đến, bề ngoài chẳng khác gì những người khác. Nhưng Người không mang thương tích, không bị khuất phục hay băng hoại. Người không đến như một kẻ bị đưa vào vương quốc của chúng, nhưng như Đấng chỉ bằng sự hiện diện của mình đã lật đổ cả vương quốc ấy.
Và ngay trong khoảnh khắc ấy, ma quỷ nhìn thấy điều chúng chưa từng thấy bao giờ: một con người hoàn toàn nằm ngoài quyền lực của chúng.
Chúng đã từng thấy Người trước đó. Trong cuộc đời dương thế của Người, chúng đã run sợ trước sự hiện diện của Người. Như thánh Augustinô nhận xét, khi thấy Người trong xác phàm, chúng đã phải thừa nhận Người mà kêu lên: "Hỡi Con Thiên Chúa, Ngài muốn gì nơi chúng tôi?"
Tuy nhiên, chúng chỉ biết Người một phần mà thôi. Chúng nhận ra quyền năng của Người, nhưng không thấu hiểu mầu nhiệm của Người. Quá tin vào sức mạnh của mình, chúng không nhận ra Đấng đã chống lại chúng và đánh bại chúng ở mọi bước đường theo một cách chưa từng thấy nơi bất cứ ai khác.
Say men trong sự tự tin của mình, chúng không dừng lại để nhận ra Đấng đang đứng trước mặt chúng là ai: Đấng Thánh của Thiên Chúa.
Quả thật, như thánh Phaolô đã nói: "Nếu họ nhận biết, họ đã chẳng đóng đinh Chúa vinh quang." (1 Cr 2,8) Và giờ đây, chúng bàng hoàng. Người đứng trước mặt chúng ngay trong cõi chết, nhưng lại không hề bị sự chết chạm tới. Đó chính là nỗi kinh hoàng của chúng.
Ở điểm này, các Giáo phụ như cùng cất lên một tiếng nói. Thánh Augustinô viết: "Ma quỷ đã bị đánh bại bởi chính chiến lợi phẩm của nó." Ma quỷ tưởng rằng chúng đã thành công. Chúng tin rằng Con Thiên Chúa đã bị sự chết làm cho câm lặng.
Nhưng như thánh Gioan Kim Khẩu công bố: "Hỏa ngục đã cay đắng khi gặp Ngài nơi vực sâu. Nó đã đón nhận một thân xác, nhưng lại phải đối diện với chính Thiên Chúa."
Ma quỷ mong đợi một nạn nhân bất lực. Thay vào đó, chúng lại gặp chính vị Vua. Thật nhục nhã. Ma quỷ nghĩ rằng thập giá là kiệt tác của chúng, là chiến thắng cuối cùng và quyết định của chúng. Nhưng điều chúng tung hô như một khúc khải hoàn, thực ra lại chính là sự sụp đổ của chúng.
Thánh Phaolô đưa ra phán quyết ấy với một sự minh bạch đầy sức công phá: “Không một thủ lãnh nào của thời đại này đã nhận ra điều đó; vì nếu họ nhận ra, họ đã chẳng đóng đinh Chúa vinh quang.” (1 Cr 2,8)
Các Giáo phụ nhất quán hiểu rằng “các thủ lãnh của thời đại này” không chỉ là những nhà cầm quyền trần thế, mà còn bao gồm cả các quyền lực ma quỷ đang hoạt động qua họ.
Điều tưởng như là thành công lớn nhất của chúng, thực ra lại chính là khoảnh khắc thất bại của chúng.
Thánh Gioan Kim Khẩu diễn tả mầu nhiệm này bằng một sự mỉa mai đầy kinh ngạc. Ngài không chỉ nói rằng ma quỷ đã bị đánh bại. Ngài còn cho thấy chính những công cụ từng mang lại chiến thắng cho ma quỷ đã bị Đức Kitô lấy lại và đảo ngược hoàn toàn.
Trong sự kiêu ngạo tự mãn của mình, ma quỷ không những không lường trước được những gì chúng sẽ đánh mất khi tấn công Đức Kitô, mà điều còn cay đắng và nhục nhã hơn là chúng không thể nào tưởng tượng nổi rằng mình sẽ thất bại chính bởi chiến lược mà chúng tin chắc sẽ bảo đảm chiến thắng.
Thánh Gioan Kim Khẩu viết:
“Anh em đã thấy chiến thắng kỳ diệu ấy chưa? Anh em đã thấy những kỳ công huy hoàng của thập giá chưa? Tôi sẽ còn nói cho anh em điều kỳ diệu hơn nữa. Hãy tìm hiểu chiến thắng ấy đã được thực hiện thế nào, và anh em sẽ càng kinh ngạc hơn.Chính bằng những phương thế mà ma quỷ đã chiến thắng, Đức Kitô đã đánh bại nó. Chính bằng những vũ khí mà nó dùng để giao chiến, Người đã hạ gục nó. Hãy nghe điều đó đã xảy ra thế nào.
Một trinh nữ, một cái cây và sự chết từng là những dấu chỉ cho thất bại của chúng ta. Người trinh nữ ấy là Evà, khi ấy chưa biết đến người nam. Cái cây ấy là cây biết lành biết dữ. Sự chết ấy là hình phạt dành cho Ađam.
Nhưng này đây, lại một trinh nữ, một cái cây và sự chết. Những dấu chỉ của thất bại đã trở thành dấu chỉ chiến thắng của Đức Kitô. Thay cho Evà là Maria. Thay cho cây biết lành biết dữ là cây thập giá. Thay cho cái chết của Ađam là cái chết của Đức Kitô.
Anh em có thấy không? Chính bởi những gì ma quỷ từng dùng để chiến thắng mà nay nó bị đánh bại.
Dưới gốc cây thứ nhất, ma quỷ đã chiến thắng Ađam. Dưới chân cây thập giá, Đức Kitô đã đánh bại ma quỷ.
Cây thứ nhất đã đẩy con người xuống cõi âm. Cây thứ hai lại gọi về cả những người đã đi xuống đó. Cây thứ nhất che giấu con người đã bị tước đoạt và ô nhục. Cây thứ hai cho mọi người thấy một Đấng Chiến Thắng trần trụi được giương cao.
Cái chết thứ nhất kết án những người sinh ra sau nó. Cái chết thứ hai lại ban sự sống cho cả những người đã sinh ra trước đó.
Ai có thể kể hết những kỳ công của Chúa? Nhờ sự chết mà chúng ta được trở nên bất tử. Đó chính là những kỳ công vinh hiển của thập giá. Anh em đã hiểu chiến thắng ấy chưa? Anh em đã hiểu nó được thực hiện thế nào chưa?
Giờ đây hãy học xem chiến thắng ấy đã đạt được mà không cần chút mồ hôi hay công sức nào từ phía chúng ta.
Không một vũ khí nào của chúng ta nhuốm máu. Chân chúng ta không hề đứng ở tuyến đầu của trận chiến. Chúng ta không mang thương tích, không chứng kiến cảnh hỗn loạn nào, thế nhưng chúng ta lại giành được chiến thắng. Trận chiến là của Chúa. Triều thiên là của chúng ta. Và từ đó, chiến thắng thuộc về chúng ta.
Vậy chúng ta hãy noi gương những người lính chiến thắng và cất cao khúc khải hoàn trong niềm vui. Hãy ca tụng Chúa mà nói rằng: “Tử thần đã bị nuốt chửng trong chiến thắng. Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu? Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi đâu?”
Thập Giá đã thực hiện tất cả những điều kỳ diệu ấy cho chúng ta. Thập Giá là một đài chiến thắng dựng lên chống lại ma quỷ, là thanh gươm chống lại tội lỗi, là thanh gươm mà nhờ đó Đức Kitô đã đánh bại con rắn xưa. Thập Giá là thánh ý của Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con, Con Một Thiên Chúa, là sự tôn vinh của Chúa Thánh Thần, là vẻ đẹp của các thiên thần, là thành trì bảo vệ Hội Thánh. Thánh Phaolô hãnh diện về Thập giá. Thập giá là thành lũy của các thánh. Thập giá là ánh sáng của toàn thế giới.
Đây chính là sự nhục nhã: những công cụ từng làm nên chiến thắng của ma quỷ lại trở thành dấu chỉ cho sự diệt vong của chúng. Điều chúng khéo léo mưu tính lại trở thành phương tiện phơi bày chúng. Điều chúng sử dụng trong hận thù lại trở thành phương thế dẫn đến thất bại của chúng. Thập giá mà chúng từng reo mừng lại trở thành dấu hiệu cho sự sụp đổ của chúng.
Chúng không chỉ bị áp đảo. Chúng còn bị qua mặt. Và tệ hơn nữa, chúng bị biến thành những kẻ tham dự vào chính thất bại của mình. Bị đánh bại bởi một kẻ thù là một nỗi nhục đặc biệt. Nhưng còn một nỗi nhục sâu xa hơn nữa: nhận ra rằng chính mình đã đánh bại mình.
Cơn thịnh nộ.
Cuộc đảo ngược hoàn toàn mà Đức Kitô thực hiện không chỉ gây nên cú sốc và sự nhục nhã; nó còn khơi bùng cơn thịnh nộ. Và từ nỗi nhục ấy bùng lên một cơn cuồng nộ khủng khiếp. Sao lại không như thế cho được?
Từ bao đời, ma quỷ đã dốc toàn lực cho khoảnh khắc này. Chúng đã rình rập nhân loại từ những bóng tối của vườn Êđen. Chúng thì thầm vào tai Cain. Chúng kích động bạo lực trước trận Đại Hồng Thủy. Chúng quyến rũ các dân tộc sa vào thờ ngẫu tượng. Chúng xúi giục những cuộc tàn sát con cái Israel. Chúng hành hạ các ngôn sứ. Chúng đi vào các vua chúa qua lòng kiêu ngạo và vào các dân tộc qua cơn khát máu.
Suốt nhiều thế kỷ, mọi sự đều quy hướng về một mục tiêu duy nhất: dập tắt những lời hứa của Thiên Chúa trước khi chúng được hoàn tất. Rồi đột nhiên, Đức Kitô xuất hiện trong dòng lịch sử.
Ngay từ lúc Người xuống thai trong lòng Đức Maria, chúng đã chống lại Người: qua Hêrôđê Cả và cuộc tàn sát các hài nhi, qua những cơn cám dỗ trong hoang địa, qua những nỗ lực khiêu khích để dẫn đến một cuộc đối đầu quá sớm, qua sự phản bội của Giuđa Ítcariốt, qua các thủ lãnh tôn giáo, qua Philatô, qua đám đông và cuối cùng là cây thập tự.
Giờ đây, hãy tưởng tượng cơn cuồng nộ của chúng khi nhận ra rằng thập giá không phải là chiến thắng của chúng mà là chiến thắng của Người. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ để làm bùng lên cơn thịnh nộ của ma quỷ. Nhưng mọi sự không dừng lại ở đó.
Đức Kitô ngự xuống chính vương quốc của chúng và bắt đầu giải thoát các linh hồn khỏi đó. Thánh Cyrillô thành Giêrusalem mô tả rõ ràng Đức Kitô như người mạnh hơn bước vào nhà của kẻ mạnh: “Người đã xuống những miền sâu dưới lòng đất để từ đó cứu chuộc những người công chính.”
Đó chính là điều Đức Kitô đã nói trong Mt 12,29 đang diễn ra trước mắt chúng: “Làm sao có ai có thể vào nhà một người mạnh mà cướp của người ấy, nếu trước hết không trói người mạnh đó lại?”
Âm phủ là ngôi nhà. Ma quỷ là kẻ mạnh. Những người công chính đã qua đời là những của cải đang được mang ra khỏi đó. Và Satan cùng đạo binh của nó hoàn toàn không thể làm gì được.
Đó là điều khiến chúng điên tiết nhất. Không chỉ vì chúng đã thua, mà còn vì Đức Kitô vẫn hoàn toàn bình thản. Người không quát tháo. Người không tranh cãi. Người không đáp lại bằng hận thù.
Ma quỷ gào lên trong cơn cuồng nộ, vì cuồng nộ là tất cả những gì còn lại nơi chúng. Hãy tưởng tượng tiếng thét của những tạo vật từng muốn đặt ngai mình trên Thiên Chúa, giờ đây phải bất lực nhìn Ađam được tự do bước ra. Evà được tự do bước ra. Abraham, Môsê, Đavít, các ngôn sứ và những người công chính của mọi thời đại bước đi cùng chính Đấng mà chúng đã đóng đinh.
Thánh Ephrem người Syria hình dung sự chết đang kêu gào trong đau đớn vì đã nuốt vào mình Đấng mà nó không thể chứa nổi.
Thánh Grêgôriô Nyssa mô tả nhân tính của Đức Kitô như miếng mồi che giấu lưỡi câu thần tính. Ma quỷ lao tới trong lòng tham và quá muộn mới nhận ra rằng nó đã nuốt lấy chính sự hủy diệt của mình. Nhưng nhận thức ấy không dẫn đến sự sám hối. Nó dẫn đến cơn cuồng nộ của hỏa ngục.
Chúng không thể đánh vào Người. Chúng không thể tố cáo Người. Chúng không thể cám dỗ Người. Chúng không thể làm Người xấu hổ. Chúng không thể ngăn cản Người. Chúng chỉ có thể đứng nhìn vương quốc của mình sụp đổ.
Và có lẽ đây là tầng sâu nhất của cơn thịnh nộ ấy. Giờ đây chúng thấy rằng mọi thất bại trong tương lai của mình, mọi phép rửa, mọi lần xưng tội, mọi cuộc trừ quỷ, mọi hành vi thống hối, mọi vị thánh chống lại cám dỗ, đều phát xuất từ chính khoảnh khắc này.
Thứ Bảy Tuần Thánh không chỉ là một thất bại. Đó là khởi đầu cho sự tan rã không ngừng của vương quốc ma quỷ. Cơn thịnh nộ của ma quỷ không kết thúc trong sự chống trả. Nó kết thúc trong sự bất lực.
Bất lực.
Bất lực có lẽ là kinh nghiệm không thể chịu đựng nổi nhất trong tất cả, vì hai lý do.
Lý do thứ nhất là cơn giận ít ra còn cho cảm giác mình đang hành động. Bất lực lại là một sự phủ định.
Lý do thứ hai là chính cảm giác bất lực ấy là điều ma quỷ đã dành cả lịch sử để khiến con người phải cảm nhận. Giờ đây, đó lại là chiếc áo mà chính chúng phải khoác lấy.
Chúng đã khiến nhân loại cảm thấy bị mắc kẹt trong tội lỗi, mắc kẹt trong sự xấu hổ, mắc kẹt trong sự chết, mắc kẹt trong nỗi sợ hãi.
Tác giả thư Híp-ri viết: “Vì sợ chết mà suốt đời họ phải sống trong cảnh nô lệ” (Hr 2,15). Chính sự nô lệ ấy là một trong những vũ khí lợi hại nhất của Satan: nỗi sợ sự chết, nỗi sợ phán xét, nỗi sợ bị chia lìa. Và giờ đây, Đức Kitô bước vào chính sự chết và phá hủy nỗi sợ từ bên trong nó. Thư Híp-ri tiếp tục nói rằng nhờ sự chết, Người đã tiêu diệt kẻ nắm quyền trên sự chết, tức là ma quỷ.
Trong Hr 2,14, hãy chú ý đến sự chính xác của câu này: không phải tránh né sự chết, không phải đi vòng quanh sự chết, nhưng là nhờ cái chết. Chính công cụ mà Satan đã biến thành vũ khí nay bị giật khỏi tay nó. Những con quỷ từng tự hào về ảnh hưởng của mình, về sự xảo quyệt của mình, về khả năng cạm bẫy và tố cáo của mình, giờ đây đứng đó bất lực, không thể ngăn nổi dù chỉ một linh hồn rời đi. Quyền thống trị lâu dài mà chúng từng thi hành trên những kẻ đã chết không bị lật đổ bởi một cuộc chiến. Nó đơn giản ngừng hoạt động trước sự hiện diện của Đức Kitô.
Những gì chúng phải đối mặt không chỉ là thất bại. Đó là sự bất lực. Chúng không thể giữ lại những gì trước đây chúng từng nắm giữ. Chúng không thể lấy lại những gì đang bị mang đi. Chúng thậm chí không thể làm chậm điều đang diễn ra trước mắt mình. Mọi quyền lực mà chúng từng cậy dựa — cám dỗ, tố cáo, ngay cả sự chết — đều trở nên câm lặng trước Đấng là Thiên Chúa.
Từ bao đời, chúng hoạt động nhờ lừa dối và bóng tối. Nhưng giờ đây không còn sự bóp méo nào nữa và cũng chẳng còn bóng tối nào nữa. Đức Kitô đứng giữa chính lãnh địa của chúng và mọi sự đều bị phơi bày. Những lời tố cáo của chúng không còn tiếng nói. Những đòi hỏi của chúng không còn nền tảng. Quyền bính của chúng không còn được thừa nhận. Và đây mới là điều cay đắng nhất. Quyền lực ấy không bị tước khỏi chúng. Nó bị phơi bày là trống rỗng. Và đó chính là nỗi nhục cuối cùng. Không chỉ vì chúng bị đánh bại, mà còn vì quyền lực của chúng bị phơi bày là từ đầu đến cuối chỉ là thứ quyền lực lệ thuộc, được cho phép và chóng qua.
Chúng không thể buộc Đức Kitô phải trả lời. Chúng không thể khiêu khích Người tham chiến. Chúng không thể lôi kéo Người vào cuộc xung đột của chúng. Người không chiến thắng theo cách chúng chiến thắng. Người đơn giản hiện hữu. Và trong sự hiện diện của Người, quyền thống trị của chúng sụp đổ. Từng linh hồn một mà chúng từng giam giữ lần lượt ra đi. Không hỗn loạn, không vội vã, nhưng trong trật tự, trong bình an và trong sự nhận biết. Họ đi theo Người, còn ma quỷ ở lại.
Không còn là những kẻ cai trị, không còn là những kẻ sở hữu, chỉ còn là những chứng nhân. Chứng nhân cho sự mất mát mà chúng không thể lấy lại. Chứng nhân cho một chiến thắng mà chúng không thể phủ nhận. Chứng nhân cho một sự thinh lặng trả lời chúng trọn vẹn hơn bất kỳ sức mạnh nào có thể làm được. Và trong sự thinh lặng ấy, chúng hiểu rằng điều vừa xảy ra không phải là tạm thời, không thể đảo ngược, cũng không phải là chưa hoàn tất. Nó mang tính quyết định. Vương quốc mà chúng tưởng là an toàn đã bị phá tung. Sự kìm giữ mà chúng tưởng là vĩnh viễn đã chấm dứt. Chiến thắng mà chúng tưởng thuộc về mình bị phơi bày chỉ là một ảo tưởng và chẳng còn gì để chúng có thể làm nữa.
Sự phơi bày. Ma quỷ phát triển mạnh trong bí mật, dối trá, hỗn loạn và bóp méo sự thật. Việc Đức Kitô ngự xuống cõi âm phơi bày tất cả. Quả thật, Người đã hứa trong Lc 8,17: “Không có gì bị che giấu mà sẽ không bị tỏ lộ.”
Khi Đức Kitô ngự xuống cõi âm, mọi lời dối trá đều bị phơi bày. Mọi lời hứa giả dối đều bị phơi bày. Mọi lời tố cáo đều bị phơi bày. Mọi vương quốc giả tạo đều bị phơi bày. Ma quỷ bị lộ nguyên hình là những kẻ lừa đảo, và chúng căm ghét sự phơi bày ấy.
Như thánh Ephrem người Syria hình dung một cách sống động, chính sự chết đã kêu lên trong kinh hoàng: “Hỡi các tôi tớ và các quyền lực của ta, điều gì đang xảy đến với ta thế này? Một ánh sáng đã bừng lên trong bóng tối, và ta đang bị nuốt chửng.”
Thánh Ephrem đã diễn tả sự sụp đổ từ bên trong ấy. Sự nhận thức đột ngột rằng vương quốc bóng tối đã bị chính Ánh Sáng xâm nhập. Và Ánh Sáng ấy không chỉ soi chiếu, nó còn phơi bày. Mọi lời dối trá đều bị lột trần và bị phơi bày đúng như bản chất của nó. Mọi quyền thống trị giả tạo đều bị cho thấy là rỗng tuếch. Ma quỷ nhìn thấy chính mình như chúng thực sự là: không phải những kẻ cai trị, mà là những kẻ phản loạn đã bị đánh bại, với thứ quyền lực bề ngoài vốn hoàn toàn lệ thuộc vào sự xa cách giữa con người và Thiên Chúa.
Giờ đây, chính sự xa cách ấy được phơi bày nơi Đấng đang đứng trước mặt chúng. Đó là điều chúng không thể chịu đựng nổi, bởi trước mặt chúng là một con người hoàn toàn kết hiệp với Thiên Chúa, hoàn toàn vượt ngoài tầm với của chúng.
Thánh Augustinô suy niệm rằng ma quỷ đã bị đánh bại bởi chính chiến lợi phẩm của nó, nghĩa là bởi chính thập giá. Điều nó dùng làm vũ khí đã trở thành khí cụ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Khi giết Đức Kitô, nó đã vượt quá giới hạn. Nó đã ra tay trên Đấng mà nó không có bất cứ quyền nào trên Người. Và khi làm như thế, nó đã đánh mất ngay cả quyền thống trị giới hạn mà nó từng có. Giờ đây, Đức Kitô đứng trước mặt chúng không phải như một nạn nhân, mà như Đấng chiến thắng chúng.
Người không tranh luận với chúng. Người không thương lượng với chúng. Người không cần phải ra lệnh như Môsê xưa trước mặt Pharaô, bởi chính sự hiện diện của Người là mệnh lệnh. Chính việc Người hiện diện ở đó là bản án.
Như truyền thống cổ xưa thường diễn tả, Đức Kitô đến để tước đoạt hỏa ngục, lột sạch nó, làm cho nó trống rỗng và cướp đi những tù nhân của nó. Và điều này không được thực hiện bằng một cuộc chiến đấu, nhưng bằng vương quyền. Kẻ mạnh mà chính Đức Kitô đã nói đến không bị trói buộc bởi một sức mạnh từ bên ngoài áp đặt lên nó, nhưng bởi sự xuất hiện của Đấng mạnh hơn nó vô cùng.
Thánh Irênê đã nhìn thấy mầu nhiệm này từ rất sớm khi ngài viết rằng Đức Kitô đã trói kẻ mạnh và giải thoát kẻ yếu, khi chính Người quy tụ nơi mình toàn bộ lịch sử của Ađam và đảo ngược lịch sử ấy từ bên trong. Và ma quỷ biết điều đó.
Chúng biết trong khoảnh khắc ấy rằng thập giá không phải là chiến thắng của chúng. Nó đã trở thành chiếc bẫy khiến chúng bị đánh bại. Giờ đây chúng thấy rằng điều chúng sắp đặt trong hận thù đã trở thành phương thế giải phóng muôn người. Cái chết mà chúng gây ra đã trở thành cánh cửa để chính Sự Sống bước vào và đòi lại những gì đã mất. Chúng không còn quyền lực nào nữa; chỉ còn sự nhận biết, chỉ còn nỗi kinh hoàng, chỉ còn xác tín không thể đảo ngược rằng quyền thống trị của chúng đã bị phá vỡ. Chúng không thể chống lại Người. Chúng không thể che khuất Người. Chúng không thể mặc cả với Người. Chúng chỉ có thể nhìn ngắm Người. Và trong chính việc nhìn ngắm ấy, chúng bị xét xử.
Bởi Đấng đang đứng trước mặt chúng không chỉ là một con người, không chỉ là một linh hồn giữa những người đã chết, không chỉ là một nhân vật đi ngang qua lãnh địa u tối của chúng. Người là Đấng Thánh; Người là Con Thiên Chúa; Người là Chúa vinh hiển, Đấng đã bước vào bóng tối của chúng không phải để ở lại trong đó, nhưng để phá tan nó từ bên trong.
Như thánh Gioan Kim Khẩu tuyên bố một cách dứt khoát: “Hỏa ngục náo động vì nó đã bị tiêu diệt. Nó đã đón nhận một thân xác, nhưng lại gặp chính Thiên Chúa mặt đối mặt.” Và một khi đã gặp Người, nó không bao giờ còn có thể như trước nữa.
Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, ma quỷ tin rằng chúng đã chiến thắng. Đến Chúa Nhật Phục Sinh, cả thế giới thấy rằng chúng đã thất bại. Nhưng vào Thứ Bảy Tuần Thánh, ma quỷ là những kẻ đầu tiên nhận ra điều đó.
Tuyệt vọng.
Cú sốc làm tan vỡ hiện tại. Sự nhục nhã viết lại quá khứ. Cơn thịnh nộ vùng vẫy trong vô vọng. Sự bất lực làm tê liệt mọi hành động. Nhưng tuyệt vọng còn đi xa hơn thế. Nó được sinh ra từ nhận thức rằng thất bại ấy là vĩnh viễn.
Cho đến Thứ Bảy Tuần Thánh, ma quỷ vẫn có thể tự thuyết phục mình rằng lịch sử, dù quanh co đến đâu, cuối cùng vẫn nghiêng về phía chúng. Đúng, Thiên Chúa đã đưa ra những lời hứa. Đúng, các ngôn sứ đã lên tiếng. Đúng, Israel vẫn tồn tại. Nhưng hết lần này đến lần khác, ma quỷ đã phá rối, trì hoãn và bóp méo những gì Thiên Chúa thực hiện.
Chúng khiến Cain chống lại Abel. Chúng làm băng hoại nhân loại trước trận Đại Hồng Thủy. Chúng nô dịch các dân tộc trong cảnh thờ ngẫu tượng. Chúng dẫn Israel hết lần này đến lần khác sa vào cảnh bội giáo. Chúng kích động việc bách hại và sát hại các ngôn sứ. Chúng hành động qua các vua chúa, các đế quốc, các đạo quân, các bạo chúa và các tôn giáo giả dối. Và cuối cùng, chúng đã đóng đinh Đấng Mêsia.
Ít nhất, đó là điều chúng tưởng.
Rồi Đức Kitô ngự xuống cõi âm. Và ngay trong khoảnh khắc ấy, một nhận thức còn kinh hoàng hơn xuất hiện. Đây không phải là một thất bại đơn lẻ. Đây là khởi đầu của một chuỗi thất bại bất tận.
Mọi bí tích trong tương lai, mọi vị thánh trong tương lai, mọi cuộc hoán cải, mọi vị tử đạo, mọi lần xưng tội, mọi cuộc trừ quỷ, mọi hành vi thống hối, mọi linh hồn được kéo trở lại khỏi tội trọng, mọi cái chết công chính — tất cả đều phát xuất từ khoảnh khắc này, từ khoảnh khắc Đức Kitô bước vào cõi âm.
Ma quỷ không chỉ đang mất đi những linh hồn mà chúng từng nắm giữ. Chúng đang chứng kiến những thất bại trong tương lai của mình nhân lên xuyên suốt dòng lịch sử. Điều từng mơ hồ nay trở nên rõ ràng.
Những lời cổ xưa được công bố trong vườn Êđen giờ đây đang được hoàn tất trước mắt chúng. Sách Sáng Thế 3,15: “Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người phụ nữ, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống ấy sẽ đạp nát đầu mi.” Giờ đây, lời ấy đã trở nên hiển nhiên trước mắt chúng.
Trong nhiều thế kỷ, lời ấy có thể đã có vẻ xa vời, mờ mịt và bị trì hoãn. Nhưng giờ đây, ý nghĩa của nó không còn gì phải nghi ngờ nữa. Và điều còn cay đắng hơn là lời ấy được hoàn tất bởi một người bị đóng đinh, một con người đẫm máu, một người đã chết — chính Đấng mà chúng tưởng rằng mình đã tiêu diệt. Và trong Người, chúng bắt đầu nhìn thấy những gì sắp xảy đến.
Chúng nhìn thấy Hội Thánh. Chúng nhìn thấy Tin Mừng tiến bước đến những nơi mà trước đây chúng từng thống trị không ai thách thức. Chúng nhìn thấy các ngẫu tượng bị xô đổ. Chúng nhìn thấy các đền thờ bị bỏ hoang. Chúng nhìn thấy các dân tộc đón nhận phép rửa.
Chúng nhìn thấy Phêrô rao giảng Đức Kitô ngay giữa lòng đế quốc. Chúng nhìn thấy Phaolô mang danh Đức Giêsu đến với muôn dân. Chúng nhìn thấy Thánh Biển Đức tái định hình một thế giới đang sụp đổ bằng cầu nguyện và kỷ luật. Chúng nhìn thấy Đaminh đối đầu với sai lầm bằng chân lý. Chúng nhìn thấy Phanxicô lôi kéo các linh hồn bằng sự thánh thiện triệt để. Chúng nhìn thấy Gioan Vianney giật các linh hồn khỏi tay chúng trong tòa giải tội. Chúng nhìn thấy vô số vị thánh, được biết đến hay vô danh, hết lần này đến lần khác làm chúng phải nhục nhã. Và chúng biết rằng chúng sẽ không bao giờ lấy lại được những gì đang mất đi nơi đây.
Hỏa ngục không thể tập hợp lại lực lượng, tái thiết và giành lại những gì đã mất như các vương quốc ở trần gian vẫn làm. Một điều không thể đảo ngược đã xảy ra. Đức Kitô đã thay đổi chính cấu trúc của lịch sử. Trước Đức Kitô, sự chết là lãnh địa của ma quỷ. Sau Đức Kitô, đối với các tín hữu, sự chết không còn là nhà tù nhưng là một lối đi, một cuộc sinh ra mới. Và điều đó thay đổi tất cả.
Mỗi vị thánh là một lời nhắc nhở. Thưa anh chị em, mỗi bí tích là một vết thương. Mỗi hành động của ân sủng là một tiếng vọng. Ma quỷ không chỉ nhớ về Thứ Bảy Tuần Thánh. Chúng sống lại biến cố ấy hết lần này đến lần khác trong mọi thời đại.
Đó chính là nỗi tuyệt vọng của chúng: không chỉ vì chúng đã thua, nhưng còn vì giờ đây chúng biết rằng chúng sẽ tiếp tục thua. Tuy nhiên, điều đó không làm chúng trở nên thụ động. Trái lại, nó còn khiến chúng nguy hiểm hơn. Giống như một con thú bị thương vùng vẫy trong điên cuồng, chúng hành động với cơn cuồng nộ dữ dội hơn chính vì biết rằng thời giờ của mình không còn bao lâu nữa.
Như thánh Gioan viết trong sách Khải Huyền: “Khốn cho đất và biển, vì ma quỷ đã đi xuống với các ngươi trong cơn thịnh nộ dữ dội, bởi nó biết rằng thời giờ của nó chẳng còn bao nhiêu.” (Kh 12,12)
Cơn cuồng nộ của chúng vẫn tiếp tục, nhưng giờ đây nó được nuôi dưỡng bởi một xác tín: thất bại của chúng là điều chắc chắn.
Kết luận.
Buổi sáng Phục Sinh sẽ tỏ lộ chiến thắng của Đức Kitô cho toàn thế giới thấy. Nhưng Thứ Bảy Tuần Thánh lại tỏ lộ một điều còn đáng kinh ngạc hơn. Ma quỷ biết trước mọi người khác rằng thất bại của chúng là chung cuộc.
Điều chúng tưởng là chiến thắng vào Thứ Sáu Tuần Thánh đã trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chúng. Điều chúng tưởng được che giấu nay bị phơi bày là sự diệt vong của chính mình. Đấng chịu đóng đinh đã bước vào lãnh địa của chúng không phải như một nạn nhân, nhưng như một Vị Vua. Một Vị Vua mà chúng không thể chống cự. Và trong sự hiện diện của Người, quyền thống trị cũ bắt đầu sụp đổ.
Đối với ma quỷ, đây không đơn thuần là một mất mát. Đây là dấu chấm hết cho ảo tưởng quyền lực của chúng. Chúng bị đánh lừa, bị qua mặt và bị lật đổ bởi chính thập giá mà chúng từng reo mừng. Bởi Đức Kitô đã biến vũ khí của chúng thành bản án của chúng, và biến điều chúng tưởng là chiến thắng thành việc phơi bày thất bại của chúng.
Vì thế, sự thinh lặng của Thứ Bảy Tuần Thánh không phải là một sự thinh lặng trống rỗng, nhưng là sự thinh lặng của vương quyền đang âm thầm hành động. Và như thế, mầu nhiệm của ngày ấy vẫn đang đứng trước chúng ta.
Đức Kitô bước vào cõi chết không phải để bị nó giam giữ, nhưng để phá vỡ nó từ bên trong. Người không bước vào để thương lượng với bóng tối, nhưng để xua tan nó bằng chính sự hiện diện của mình. Những kẻ đầu tiên hiểu điều đó không phải là các Tông đồ, nhưng là chính những quyền lực hỏa ngục đã bị đánh bại. Trong kinh hoàng, chúng nhận ra rằng vương quốc được xây dựng trên dối trá của chúng đã bị chọc thủng vĩnh viễn.
Vào Thứ Bảy Tuần Thánh, thưa anh chị em, thiên đàng vẫn chưa công khai lên tiếng, nhưng hỏa ngục đã biết rồi.
633. Kinh Thánh gọi nơi trú ngụ của các vong linh là âm phủ (Shéol) hoặc âm ty (Hadés). Trước khi Đấng cứu chuộc đến, mọi người đã chết, dù lành hay dữ, đều phải vào chốn này. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa và đang chờ đợi Đấng Cứu Chuộc. Số phận của họ không giống hệt nhau, như Đức Giê-su cho thấy qua dụ ngôn La-da-rô nghèo khổ được rước vào "lòng Áp-ra-ham". "Khi xuống ngục tổ tông, Đức Giê-su giải thoát chính những tâm hồn lành thánh "trong lòng Áp-ra-ham" ấy đang chờ đợi Đấng giải thoát". Đức Giê-su xuống ngục tổ tông không phải để giải thoát những kẻ bị án phạt đời đời hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày, nhưng để giải thoát những người công chính đã chết trước khi Người đến. -- GLHTCG 6333

0Nhận xét